“Cha ơi, Tình yêu nước là gì?”

Có lẽ sẽ có một ngày con sẽ giống ta – tự hỏi mình rằng “tình yêu nước là gì”? “Nó có quá mơ hồ không cha?!” “Cha có gì đơn giản, dễ hiểu để cho con biết không?”

Cảm ơn con vì câu hỏi tuyệt vời đó, câu hỏi mà đã băn khoăn nhiều lần về câu trả lời. Nó tròn méo ra sao mà nó lại được ca ngợi là có sức mạnh ghê gớm vậy. Sức mạnh đó đã được không biết bao sách mở đã nhắc đến nó một cách thiêng liêng đẹp đẽ. Thứ tình yêu đó có sức mạnh không tưởng và đã giúp dân tộc Việt Nam nhỏ bé làm nên những kỳ tích trải dài trong suốt 4000 năm lịch sử dân tộc. Lòng yêu nước giúp chúng ta vượt qua những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trong lịch sử thế giới. Đó là đội quân Nguyên – Mông đi đến đâu nát tan đến đấy. Đó là không biết bao lần vượt khỏi vòng kiềm tỏa của người láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Đó là hai lần kháng chiến trường kỳ với hai đế quốc quân sự hùng mạnh nhất Pháp – Mỹ trong thế kỷ 20.

Con trai thân mến, cha kể vậy chắc con thật khó mường tượng. Vì chúng ta đâu có trải qua chiến tranh đâu và cha tin cũng tin và hi vọng đó sẽ là sự thật. Hi vọng rằng thế hệ chúng ta chiến tranh sẽ chỉ được biết đến qua sách vở, qua đài báo hay qua màn ảnh. Vì chỉ với sách vở & trí tưởng tượng nghèo nàn của ta, nó đã quá khủng khiếp để cha không muốn rằng bất kỳ ai phải sa vào những nỗi đau đớn như vậy.

Vậy, con sẽ hỏi, “cha ơi con nhìn vào đâu?”

Cho đến lúc này, cha nghĩ mình may mắn hơn con vì được trải nghiệm tình yêu nước một cách giản dị hơn nhiều. Đó không phải là cảnh thanh niên Việt Nam phải cầm súng ra trận mà hiên ngang giữ gìn đất nước – vì tình yêu tổ quốc. Con ạ, những giọt nước mắt lăn dài trên má của không biết bao lớp người trong những ngày thu 2013 này đã dạy cho ta biết về lòng yêu nước. Họ khóc, khóc hu hu, khóc vạ vật, mặt mũi dúm dó vào và những dòng nước mắt cứ trào ra mạn chát – đã dạy ta. Và con biết không, họ khóc như những đứa trẻ cho một người “xa lạ”, “không máu mủ, ruột già”. Họ khóc cho một vĩ nhân – vị “đại tướng nhân dân” Võ Nguyên Giáp. Không biết bao con người đau thương cho con người vĩ đại đó. Già – trẻ, gái – trai, lớn – bé, giàu – nghèo, triệu trái tim chung một nỗi buồn vô hạn con ạ.

Và con sẽ hỏi tiếp, “cha ơi, đau thương vậy sao đại diện cho lòng yêu nước.”

Con thân mến, cha sẽ nhìn con và bảo rằng “Con trai ạ, họ khóc cho một biểu tượng. Một biểu tượng của sự hi sinh trọn đời cho dân, cho nước. Họ khóc cho một đại diện vĩ đại duy nhất còn sót lại của thời đại Hồ Chí Minh. Họ khóc cho người đã sống trọn đời vì họ, yêu thương họ với tấm lòng bao dung. Nước mắt của họ lăn dài là biểu tượng của tình yêu. Một tình yêu hai chiều thuần khiết giữa một người lính và những người quân – dân của ông”.

Hôm nay, cha đã thấy lớp lớp người dân chung một niềm đau, nắm lấy tay nhau tiễn đưa một biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước. Vậy chẳng phải đó là minh chứng tuyệt vời cho lòng yêu nước của người Việt Nam không con. Cha tin là vậy, cha tự hào vì những giọt nước mắt mằn mặn đang chảy dài trên những khuôn mặt tiếc thương suốt cả một tuần nay. Đoàn kết của dân tộc ta đâu phải chỉ trong chiến tranh chống ngoại xâm như sách vở thường gán vào. Tình yêu nước giản dị thể hiện qua những nỗi buồn, qua sự chia sẻ với nhau nỗi mất mát lớn.

Và trong đau thương vô hạn, cha tìm về những điểm sáng, cha trân quý nỗi đau thương này của dân tộc. Cha lạc quan trong sự mất mát đến từ cái chết.

Con trai, rồi này đây con sẽ thấy cái dân tộc nhân hậu một cách sâu thẳm bên trong này sẽ làm nên những điều kỳ diệu khác. Thế giới sẽ không chỉ nhắc tới chúng ta với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại xoay chuyển lịch sử thế kỷ 20 nữa. Họ sẽ nhìn chúng ta là một dân tộc đoàn kết một cách sâu sắc. Vấn đề có lẽ chúng ta thiếu một ánh sáng đủ vĩ đại để tạo ra sợi dây vô hình giúp người Việt Nam nắm tay nhau để tiếp tục làm nên những điều kỳ diệu khác.

Con ạ, hãy tìm về lịch sử

Hãy tìm về mùa thu buồn của năm 2013,

Con sẽ tìm thấy tràn ngập nỗi đau thương của cả dân tộc,

Con sẽ tìm thấy sâu thẳm trong những trái tim là khát khao hướng thiện,

Con sẽ tìm thấy hạnh phúc và sự lạc quan trong những giọt nước mắt

Vậy nhé con,

Hãy vững tin vào tương lai tốt đẹp.

Yêu con.

Sài Gòn, ngày 12/10/2013

“Cha ơi, Tình yêu nước là gì?”

A world without strangers

Thế giới không người xa lạ.

“Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương một kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thật sự rất khó khăn, và con đã giúp chúng ta hiểu được điều đó. Con là chim hải âu, và con phải sống cuộc đời của một con hải âu. Con phải bay”

Chú mèo Zorba nói vậy. Nói rõ ràng, nói rành mạch đầy tính khẳng định về con người. Có vẻ chú nói đúng, đúng cái bản chất con người – luôn so sánh, luôn tìm ra sự khác biệt*. Cảm ơn chú, đã làm tôi đôi khi giật mình và thật sự hiểu rằng mình là một con người.

Hôm nay một ngày mưa ở Sài Gòn bâng quơ nghĩ về khác biệt…

Thế giới không có người lạ – tức là người quen, là người thân, là người nhà… và xa hơn cả là giống chính mình.

Tôi thích cái lý tưởng đó. Thích thôi, dù cho lúc đầu viết là tin. Ngẫm lại viết vậy là hơi xa xỉ. Xa xỉ vì ý thức được về nó không có nghĩa mình sẽ ngừng phán xét, ngừng việc thỉnh thoảng buột mồm – mà có thể làm đau lòng người khác. Tóm lại, dù bạn mua cái cái áo có chữ « World without strangers » thì nó cũng chỉ nói lên bạn thích cái lý tưởng đó. Như ai, bạn vẫn so sánh, vẫn thỉnh thoảng ghét (một cách rất tự nhiên) một số thứ hay một số người.

Nhìn một cái gì như đúng với bản chất của nó, như nó là chính nó là khó!

Lại một lần nữa nó cho thấy một điều, anh đọc được, anh va chạm, anh chiêm nghiệm và cuối cùng anh nhận thức được là một chuyện. Anh chuyển được nhận thức đó thành ý thức thuộc về bản thân lại là chuyện khác. Và ý thức đó khiến anh hành động đơn giản vì lý tưởng đó thuộc về anh, không phải vì áp lực xã hội, không phải vì bài học đạo đức anh nhớ láng máng ở đâu đó trong những ngày bệt mông ở trường tiểu học hay từ những lời cha mẹ ở thuở xa xôi.

Tiếp tục về trời mưa…

Đi qua 3 ngã tư là 3 chốt cảnh sát giao thông. Thấy các chú cảnh sát đứng sát cạnh dân trú mưa.

Thấy tình quân dân. Bất chấp họ cũng chẳng âu yếm gì nhau, hay có biểu lộ tình cảm gì. Đơn giản vì minh thấy anh cảnh sát thật bình thường. Thật thân thuộc. Anh cũng sợ mưa. Anh cũng sợ bẩn quần áo. Cũng sợ ướt người. Cũng đứng như ai trong cái cây xăng và trong mái hiên chìa ra đường. Rất bình thường. Sát cạnh người bị bắt. Sát cạnh những anh em lao động chân tay. Vứt bỏ cái lớp áo vàng – áo xanh đi, họ cũng là cha là chú là anh em của mình.

Anh, tôi, họ, ta giống nhau.

Bài viết tặng Thanh Phạm – một người bạn thật khác biệt.

Ghi chú:
* Trong “Phi lý trí” – tác giả Dan Ariely đã đề cập đến hành vi luôn so sánh của con người khá nhiều lần.

A world without strangers

2011: Những kỷ lục mới và ‘choáng’, ‘sốc’, ‘giật mình’

Cảm ơn tác giả Hoàng Hường với bài viết này. Có lẽ điểm nhấn của bài với cá nhân mình chính là chuyện “Tưởng đài của mẹ đặt ở đâu” trên Sài Gòn Tiếp Thị. Đọc mà thấy chua chát.

Bài được lấy từ một nguồn thông tin ưa thích của mình Tuanvietnam.

Chúc mừng năm mới các bạn 🙂

Tác giả: HOÀNG HƯỜNG

Bài đã được xuất bản.: 26/12/2011 06:00 GMT+7

Những ngày cuối cùng của năm 2011 đang đi qua, đây là thời điểm các cơ quan ban ngành bận rộn với những cuộc tổng kết, báo cáo cuối năm. Tuần Việt Nam xin cùng nhìn lại những hỉ nộ ái ố suốt một năm qua trên các phương tiện truyền thông nhìn từ lĩnh vực văn hóa.

Cơn choáng của bà bộ trưởng và sự hào phóng của đại gia yêu cái đẹp Continue reading “2011: Những kỷ lục mới và ‘choáng’, ‘sốc’, ‘giật mình’”

2011: Những kỷ lục mới và ‘choáng’, ‘sốc’, ‘giật mình’

Nghìn năm đại lễ có lẽ chỉ nên Nhìn

  • Thư pháp Văn Miếu & Chổng mông
  • Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và các bé nằm ngủ vạ vật

Mình không tham gia đại lễ nhiều. Một là cũng bận lung tung – dù đang thất nghiệp :((, Hai là sợ. Sợ gì thì ai mà chẳng nói được, sợ nhiều: sợ tắc đường, sợ đông, sợ nhìn thấy những điều chướng tai gai mắt. Tóm lại là sợ làm người ta chẳng muốn hành động và chỉ đứng nhìn. Nói đến đây lại nhớ các clip đấm đá trên mạng. Báo chí tốn giấy mực không phải vì những cảnh như phim hành động đó, mà là vì cái đội hình đứng xung quanh và… chỉ NHÌN. MÌnh cũng hèn. Tóm lại là thế.

Nhưng sợ thì sợ thế, nhưng dù sao là thanh niên, cũng khỏe mạnh, họ chen được mình không chen được ah. Thế là cũng phải bò ra ngoài đường cho dù trước đó đã xác định tinh thần 10 ngày này là 10 ngày an phận. Tĩnh tâm không đi ra ngoài, không xỉa xói gì hết. Ấy thế mà không chế ngự được. Đúng là nói 1 đằng làm 1 nẻo cũng… dễ thật. Không hề khó như mình nghĩ.

Và 2 lần đón đại lễ 2 lần học thêm nhìn ngó thêm được nhiều điều. Mình không nói là thất vọng nhé, vì nghe thế rất tiêu cực, không xứng đáng với nỗ lực của nước nhà trong việc tổ chức cái đại lễ hùng trang này.

Nhưng mà quay lại,

Quay lại với thư pháp VS mông?

Hai cái này thì liên quan quái gì đến nhau.

Cụ tỷ là thế này, Văn Miếu hôm khai trương chương trình thư pháp, sát giờ mình được cho vé. Nói thật là hấp dẫn dù cái mình thì chẳng biêt thư pháp là gì. Thôi thì đi, đi cho tỉnh táo và hòa vào cái không khí nghìn năm có một chứ.

Cũng đông. Thế thì cũng có thể mừng thế này nhá: Dân mình yêu thư pháp này, yêu cái truyền thống này, yêu cái gọi là dành cho các tao nhân mặc cách, trọng đạo… Suy từ cái chuyện đứng nghẹt ngoài cửa rồi Tổng quát hóa lên thế chắc cũng chẳng có gì là quá nhỉ? Nhưng đông người đến đó để làm gì? Một câu hỏi thừa, thừa vô cùng. Đương nhiên là cố mà chen vào xem Thư pháp rồi. Nói như các cụ là “Thằng này hỏi bậy thật?!”. Nhưng mà bậy thế chứ cũng chẳng bằng việc, vào thư pháp thì không được xem, mà đi xem mông của người chụp ảnh. Mông của người chụp ảnh ở đây chia làm 2 dạng:

  • 1 là những người đam mê nghệ thuật
  • 2 là của nhà báo.

Sao tự dưng khán giả lại có vinh dự như vậy, chẳng là sân khấu thì bé, tinh thần yêu nghề thì cao. Chẳng còn cách nào là che hết đại biểu + Khán giả mà… trèo lên, vây quanh, lố nhố, rồi quỳ, rồi vân vân và vân vân. Miễn sao đạt được 2 cái: Một là mục đích nghề nghiệp, Hai là mục đích cao hơn, hẳn là cao hơn nhiều rồi: NGHỆ THUẬT. Thôi thì cái sân khấu được có dăm chục mét vuông, cao hơn mặt đất khoảng 40 –  50 cm nhưng mà có cả trăm cái máy ảnh lớn nhỏ vây xung quanh bắn chíu chíu. Lúc đấy mình cũng trộm buồn, giá mình máy xịn mình cũng xin phép được đam mê nghệ thuật thế. Nghệ thuật chổng… vào các lãnh đạo và người hâm mô để tiến đến sự thăng hoa. Thăng! Thăng mạnh đến nỗi Ban tổ chức không biết bao nhiêu lần cầm mic mà rằng: Xin các nhà báo “NGỒI XUỐNG!!!  Còn rất nhiều quan khách dang ở dưới…” Thôi thì đủ kiểu răn đe, nhẩm nhẩm chắc cũng tầm 6, 7 lần họ phải nói để 2 nhóm người trên thôi bấm máy vì các mục đích cao đẹp của từng người. Nghĩ cũng vui.

Nhưng thật ra, cũng không phải ai cũng đam mê thế, vẫn có người làm báo thờ ơ vơi việc đó. Họ đứng từ xa, dựng chân máy, ống tele dài ngoằng. Thỉnh thoảng phải bực tức mà phang vọng lên “Ngồi xuống điiiiiii”. Với mình đây là những người chân chính, dù… họ chẳng đam mê lắm nhỉ? Họ biết cần gì, họ làm việc không phải với cái tinh thần miễn sao được việc mình, họ tôn trọng khán giả, họ chuẩn bị đầy đủ cho các tình huống chứ không phải sồn sột lên sát để chụp cho rõ. Tóm lại mình yêu những người không yêu nghề đấy. Mình tôn trọng họ.

Xiên ngang 1 chút, trong cái đám lố nhố đang ra sức sáng tác nghệ thuật đấy, không biết bao nhiêu người mình thấy Súng, Ống, Đèn của họ không hiểu chụp kiểu gì. Trời thì tối mạnh rồi, đèn Flash kiểu tích hợp sẵn, những kiểu ảnh chụp được đó có đẹp không nhỉ? Võ vẽ chụp ảnh 1 chút, mình cũng hiểu rằng, súng mà rởm rít điều kiện ánh sáng đó thì chỉ ra những kiểu ảnh tầm thường mà thôi. Nhưng chắc họ nghĩ quan trọng là tình yêu nghệ thuật.

Tình yêu đó đủ để chà đạp lên cái nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của những người khác.

NHẪN, học cả đời cũng không hết…

Nhưng ai cũng muốn học, nhiều nhiều lắm. Bằng chứng là đến tiết mục xin chữ, nhiều người xin chữ nhẫn lắm. Nhiều chứ, ai chẳng muốn tinh thần thế này của cụ Giáp:

Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường tiến thân

Mục tiêu có rồi, chẳng có gì mà không ngại ngùng XÔNG LÊN MÀ XIN CHỮ NHẪN cả. Xin chữ Nhẫn nhưng quả thật, mình cứ tò mò không hiểu họ xin xong để làm cái gì. Để hả hê rằng mình có được chữ Nhẫn tuyệt đẹp để trưng trong nhà xong rồi lúc nào đó bạn đến chơi hỉ hả 1 cậu chuyện kiểu:

A: Ôi chữ này đẹp thế! Chữ gì thế, ở đâu ra thế?

B: Chữ Nhẫn, mày đúng là chẳng biết gì cả. Vô học vđ chính là chú?!!! Anh chán chú lắm. Anh hơi vất vả mới xin được đấy.

A: Vất vả NTN?

B: Chen lòi mắt mới xin được chữ NHẪN đấy!!!

Haizzz, anh B ah, anh có xin 1000 chữ nhẫn dán xung quanh nhà, dán tràn lan cho nó hợp với cái hội chứng 1000 những ngày gần đây thì anh mãi cũng chẳng bao giờ đạt được cái Nhẫn thật sự đâu…

Mọi con đường đều tới thành Rome,

10 – 10, mọi con đường đều đổ về Mỹ Đình…

Nổ 2 container, hủy bắn 28 điểm để tiết kiệm cho miền Trung, vậy thì đương nhiên Mỹ Đình là điểm đến duy nhất cho cái ngày trọng đại này rồi. Và cũng nhờ thế…

Chúng ta được ngắm nhìn “Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và các bé nằm ngủ vạ vật“

Mình không biết công tác tổ chức thế nào, vì chương trình quy mô thế này phát sinh sự cố, rồi không lường trước được tình huống xấu là điều hoàn toàn có thể xảy ra. NHƯNG để đến mức các đại biểu quan trọng nhưng bác Lê Khả Phiêu, ông Nguyễn Phú Trọng hay 1 ông bộ trưởng (mình không chắc là bộ nào?) cũng chẳng có “cửa” mà vào đến Mỹ Đình thì mình nghĩ là điều không thể chấp nhận. Nói thật là ngạc nhiên, ngạc nhiên thật sự khi mình được thấy tận mắt, bác Phiêu với sự hỗ trợ của khoảng 5 – 7 vị cảnh sát cơ động dơ dùi cui điện, mồm thổi còi, tay bộ đàm hò hét… đưa các vị vao bằng đường “Căng hải” thì đúng là kỳ tài. Rồi đến thằng em mình cách đó khoảng 15m thì khăng khăng khẳng định là nhìn thấy bác Trọng mặc vest đi vào cùng mấy ông khác. Hay là các bác muốn vi hành, muốn gần dân nên ô tô bỏ ngoài, thả bộ vào trong cho nó không khí, gần dân cho hiểu dân khổ thế nào.

Bất giác mình chép miệng “Đến các bác còn phải khổ sở mới vào được đến Mỹ Đình thì dân đen như mình đứng ngoài này xá gì!” Mà không đứng thế này sao mà được gần các vị lãnh tụ đến thế. Còn phấn đấu để được bắt tay với tặng thưởng từ các vị này ah. Haizzz, e là nỗ lực cả đời. Tóm lại là, có vé, đứng ngoài xem pháo hoa mà nhìn được lãnh đạo âu cũng là một đặc quyền đặc lợi mà chẳng mấy người có được.

Hết cả buồn với bực tức nhé 😀

9h35’, pháo hoa bắn lượt đầu tiên,

Hò reo, hàng loạt máy ảnh, di động giơ lên để ghi lại thời phút mà họ cứ chờ chờ mãi mà tưởng chừng là… pháo hoa nổ hết rồi, chẳng còn gì. Mặt ai nấy cũng rạng rỡ. Rạng rỡ vì:

–                      Bắn rồi

–                      Đẹp quá

–                      Lần đầu tiên em nhìn thấy pháo hoa

–                      Mình phải quay lại cho bạn bè, bố mẹ xem mới được

–                      Up lên mạng…

–                      …

–                      …

–                      Sắp được về rồi, bắn xong là mọi người giải tán???

Dân mình nghèo, đâu phải ai cũng được xem pháo hoa. Mà lại còn là pháo hoa nghệ thuật, do Tây chỉ đạo bắn hẳn hoi. Thế thì phải đẹp vô địch, đẹp vô đối. Thế thì xứng đáng mà “Tôi lên đây từ 3h chiều” “Tôi chen đến sát rồi mà bị đuổi về”. Với các thành phố lớn như HN hay Sài Gòn mình nghĩ hôm qua bắn thế là cũng đẹp, cũng hay nhưng theo lý thuyết lợi ích cận biên giảm dần thì họ sẽ có xu hướng ở nhà. Vì sao ah. “TẾT nào mà chẳng bắn, chen lấn xô đẩy làm cái gì?”

12h30 đêm, đường vẫn kẹt, bóng công an thưa thớt. Không hiểu các chú làm nhiệm vụ ở đâu? Sao không ai phân bổ các chú ra đây giúp dân. Để dân phải nằm la nằm liệt, phải con bồng con bế, cứ nhìn lượt thượt vào hàng xe dài cả cây số. Các ông bố bà mẹ lúc nãy thì dỗ con đừng khóc khi chen lấn thì giờ đây… giỗ con ngủ ah. Nhìn họ ai chẳng chép miệng một câu “Khổ thân quá, thương quá…”. Được cái dân mình cũng lạc quan, nhưng hi vọng không phải lạc quan tếu khi nói những câu “Thôi thì 1000 năm có 1 lần, ăn chơi thì phải chịu đựng, thế này là tốt lắm rồi…”

Chịu đựng,

Thì rõ, ai ra đường cái ngày hôm qua chẳng xác định tinh thần chen chúc. Phải xác đinh rõ lắm mới dám chen ra đường. Mà xác định thế rồi thì đừng ngoạc mồm ra mà than mấy cái câu “Người đâu mà đông thế”, sao bon chen thế… Họ ích kỷ, chỉ có kẻ ích kỷ  đặt những câu hỏi ngu dốt như thế?! Sao họ không tự hỏi mình sao biết đông mà còn ra. Dẫu sao cũng nên lạc quan thêm lần nữa họ chị chép miệng vậy vì mệt chứ cũng chẳng có ý gì thâm sâu hơn cả.

1h đêm về đến nhà, phải thừa nhận là mệt, 5h hít khói và hít thuốc pháo, không mệt là nói phét. Xâu chuỗi lại thấy nhiều điều, mình cũng chẳng tiếc gì, thấy chưa bao giờ 1 tối mà “gặp” nhiều người thế. Mình nghĩ là đại lễ mình học được, quan sát được nhiều điều thú vị. Chắc là các bạn cũng thế nhỉ? Hehe, đừng tiêu cực hóa mọi chuyện là được 😀

Đại lễ nghìn năm

Nghìn điều để nói

Vài điều để làm

Còn lại… để nhìn

Nghìn  năm sau, con cháu ta sẽ làm tiếp.

Nghìn năm đại lễ có lẽ chỉ nên Nhìn

Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long: Tìm đâu hồn Việt?

Đọc bài của bác Nguyễn Đắc Xuân ở dưới xong cứ có cảm giác nhục nhục. Các bạn tự đọc tự nhận xét. Mình thì thấy quá nhiều vấn đề qua cái dự án 100 tỷ lùm xùm này. Buồn cho nhiều khía cạnh của Việt Nam 😦

“Bộ phim Trung Quốc nói tiếng Việt” Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long nếu được Việt Nam quyết định chiếu trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là một sự xác nhận trước thế giới rằng 1000 năm trước Việt Nam từng là chư hầu của Trung Quốc. – Nhà văn nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân viết.

LTS: Nhà văn – nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân gửi tới Tuần Việt Nam bài viết chia sẻ những suy ngẫm, trăn trở của ông khi xem giới thiệu phim Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long.

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu góc nhìn của ông, để bạn đọc cùng thảo luận.

Là một nhà văn nghiên cứu lịch sử ở Huế và không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhưng do tôi có chút kinh nghiệm nghiên cứu cổ trang để “tái hiện lễ đăng quang của vua Quang Trung”- một lễ hội quan trọng trong Chương trình Festival Huế 2008 và là tác giả bài báo “Làm phim Thái tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp” đăng trên báo Hồn Việt (số 11, tháng 5-2008) cách đây mấy năm, một vài báo hình và báo điện tử chuyển cho tôi xem một số hình ảnh, đoạn phim ngắn giới thiệu bộ phim cổ trang truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long sẽ phát sóng trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Họ đặt cho tôi một số câu hỏi về sự cảm nhận về bộ phim đó.

Chưa được xem bộ phim dài 19 tập này, khắc họa giai đoạn từ thời tiền Lê đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi tên là Thăng Long, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ ổn định và phát triển dài lâu của đất nước”, nên tôi chưa có ý kiến gì về nội dung kịch bản, về tư tưởng thời Lý xuyên suốt bộ phim, về thông điệp của triều Lý để lại trong lịch sử VN. Tôi chỉ xin bình luận về những thông tin, hình ảnh đã thu thập được từ những đoạn phim quảng cáo, giới thiệu phim mới.

Không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhất là phim lịch sử, nên bài viết có điều gì bất cập, kính mong các nhà chuyên môn, các nhà sử học, các thức giả bổ cứu hoặc cho tôi một cơ hội được học thêm.

Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên- có hiểu lịch sử VN?

Người viết kịch bản: Tác giả kịch bản được công bố là ông Trịnh Văn Sơn – Tổng Giám đốc Công ty CP Truyền thông Trường Thành (có người gọi ông là Sơn Trường Thành – cũng là Giám đốc sản xuất bộ phim). Trịnh Văn Sơn là một người chưa bao giờ được giới điện ảnh VN biết tên là một nhà viết kịch bản phim nói chung chứ chưa đề cập đến người viết kịch bản phim lịch sử nói riêng.

Ông đột nhiên “nổi lên” như một bậc thầy viết kịch bản lớn. Không rõ kịch bản phim lịch sử đầu tay của ông Sơn Trường Thành có được một bậc thầy viết kịch bản phim lịch sử VN nào góp ý trước chưa? Chỉ biết ông đem kịch bản của ông qua nhờ nhà viết kịch bản nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chương Hòa “chuốt lại”.

Ông Kha Chương Hòa là một nhà viết kịch bản phim lịch sử cổ trang Trung Quốc giỏi, nhưng ông chưa hề biết tâm tính người Việt Nam, chưa hề học lịch sử Việt Nam, (nếu có học thì cũng là sự méo mó, xuyên tạc từ sách sử Trung Quốc về Việt Nam). Vì thế tôi nghi ngờ cái sự chuốt đúng đắn của ông Chương Hòa về lịch sử VN quá!

Ông Sơn Trường Thành lại nổi lên như một nhà “đại tư bản” trong giới kinh doanh văn hóa VN. Ông đã bỏ ra đến trên 100 tỷ đồng (nghe nói 7 triệu USD) để thuê người Tàu dựng cuốn phim đầu tay của mình. Ông đóng góp một công trình nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long hay ông lợi dụng 1000 năm Thăng Long để kinh doanh văn hóa nghệ thuật? Sự thực như thế nào còn phải chờ thực tế trả lời.

Đạo diễn Cận Đức Mậu (trái) và ông Trịnh Văn Sơn – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Trường Thành

Đạo diễn: Bộ phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long có 3 đạo diễn:

Đạo diễn Cận Đức Mậu, là một người làm phim cổ trang của Trung Quốc nổi tiếng, tôi rất kinh phục. Nghe nói trước khi bắt tay làm phim, Cận Đức Mậu đã có lần lần sang VN, đến thắp hương ở đền vua Đinh, vua Lê, tượng đài Lý Công Uẩn, tuyển chọn diễn viên và “cảm nhận văn hóa Việt”. Nhưng tôi không tin “ông ấy hiểu rất rõ về VN”, nhất là lịch sử VN như một người có trách nhiệm trong đoàn làm phim đã khẳng định.

Cận Đức Mậu sang VN vái chỗ này, thắp hương nơi kia có khác gì hàng triệu khách du lịch đến VN? Vài cái chắp tay vái lạy, đôi lần thắp vài cây hương không thể chứng tỏ được sự hiểu biết lịch sử và sự kính trọng tổ tiên chúng ta của vị đạo diễn.

Nếu hiểu và tôn trọng lịch sử VN thì không bao giờ ông tùy tiện tạo sự hoành tráng cho bộ phim bằng những cảnh kỵ mã phi trên thảo nguyên vô cùng xa lạ với dân tộc VN như ảnh dưới đây:

Ngựa phi đường xa

Đây là đội kỵ binh của Nguyên Mông. Trong lịch sử từ xưa đến nay VN chưa bao giờ có một đội quân mặc giáp trụ cưỡi ngựa như thế. Đường VN hẹp, nhiều sông suối, cầu nhỏ, không có những cánh đồng cỏ lớn lấy đường đâu cho kỵ binh đi, lấy cỏ đâu cho một đoàn ngựa chiến như thế ăn?

Chỉ có những đạo diễn không biết gì về hoàn cảnh VN mới tự tiện ghép những những màn kỵ binh có sẵn trong phim cổ trang của Trung Quốc vào cho phim VN như thế thôi.

Một thông tin trên mạng tôi không nhớ địa chỉ cho biết bộ phim còn có một đạo diễn thứ hai nữa cũng là người Trung Quốc. Vị này là người phụ tá đắc lực cho đạo diễn chính Cận Đức Mậu, được đạo diễn chính giao thực hiện phần quan trọng của bộ phim.

Đạo diễn Tạ Huy Cường là người VN, đã đạo diễn một số phim ngắn ở VN (đạo diễn game show Chắp cánh thương hiệu) chưa có mấy tên tuổi  trong giới điện ảnh VN. Chính anh đã tự nhận là “lần đầu tiên làm phim cổ trang lớn” ở Trung Quốc. Anh không biết tiếng Trung nên khi “không có phiên dịch… thì chúng tôi nói chuyện với ê kíp của Trung Quốc bằng hình thể hoặc nói xong nhìn nhau cười“.

Qua đó ta có thể biết đạo diễn Tạ Huy Cường không có vai trò gì nhiều khi quay các trường đoạn hoành tráng do hàng trăm diễn viên Trung Quốc đóng.

Đạo diễn Tạ Huy Cường có mặt ở trường quay Hoành Điếm, Triết Giang (Trung Quốc) trong thời gian quay bộ phim, có lẽ chỉ trên tư cách một người đi học việc, đi tu nghiệp làm phim cổ trang và được thực tập đạo diễn một số đoạn dân chúng đơn giản thôi.

Đạo diễn Tạ Huy Cường (VN)

Vai trò của đạo diễn VN giới hạn như vậy khó có thể tạo được cái hồn Việt cho bộ phim.

Diễn viên: Phim có 45 nhân vật chính, phần lớn những nhân vật chính do diễn viên VN đảm nhận. Diễn viên Tiến Lộc (theo báo chí viết anh vừa được biết đến trong vai ca sỹ Quang Bình đồng tính trong phim Nhà có nhiều cửa sổ) đảm nhận vai Lý Công Uẩn. Lần đầu tiên Tiến Lộc đóng phim lịch sử. Á hậu Thụy Vân (chưa hề đóng phim bao giờ) vào vai Lê Thị Thanh Liên – hồng nhan tri kỷ của Lý Công Uẩn. Diễn viên – NSƯT Trung Hiếu của nhà hát kịch Hà Nội được chọn vào vai Đinh Bộ Lĩnh. Nam diễn viên Hoàng Hải vào vai Lê Hoàn, Phan Hòa trong vai Thái hậu Dương Vân Nga.v.v.

Sự hiểu biết về lịch sử VN đặc biệt là triều Lý của những diễn viên chính này rất mỏng. Do đó mọi diễn xuất của họ đều do đạo diễn Trung Quốc “bảo chi làm nấy”.

Ngoài những diễn viên chính, còn toàn bộ diễn viên đóng thế, hàng trăm diễn viên quần chúng đều thuê người Trung Quốc. Với một dàn diễn viên làm theo ý Trung Quốc hoặc diễn viên Trung Quốc chính cống chuyên đóng phim Trung Quốc như thế thì lấy đâu ra cái hồn Việt để kỷ niêm 1000 năm Thăng Long đây?

Một cháu nhỏ ghiền phim Trung Quốc xem tấm ảnh này:

Tần Thủy Hoàng?

Cháu liền kêu lên – “Tần Thủy Hoàng! Tần Thủy Hoàng!” Tôi đính chính: “Vua nhà Lý nước mình đó!”. Cháu vui mừng: “Rứa hả ông? Vua Lý nước mình giống Tần Thủy Hoàng. Oai thật!”.

Một người bạn ngồi uống cà-phê bên sông Hương thấy tấm ảnh này trên tay tôi liền có lời bình rằng: “Tổ tiên mình làm gì có cái búi tóc dựng đứng trên chóp đầu như vậy? Đến đầu thế kỷ 19, điện Minh Thành trong lăng Gia Long vẫn chưa có sơn, còn để mộc, huống chi thời Lý cách đó 9 thế kỷ mà cung điện nhà Lý đã sơn đỏ chót như rứa? Nội cái màu sơn đỏ chót đó cũng đã toát lên cái “chất Tàu” của bộ phim rồi!”

Người thiết kế, người sản xuất cổ trang và câu chuyện “Trung hoa hóa”

Chuyện thiết kế cổ trang: Như trên đã viết, cách đây mấy năm, tôi được mời cùng với nhiều nhà nghiên cứu lịch sử ở Huế nghiên cứu thiết kế cổ trang để phục dựng Lễ tế Nam Giao (2004) và lễ đăng quang của vua Quang Trung (2008). Phục trang cổ của Tế Nam Giao chỉ cách chúng ta có hơn 60 năm, trong các thư viện còn nhiều hình ảnh của Pháp để lại nên việc nghiên cứu phục chế cổ trang không khó lắm.

Nhưng việc nghiên cứu phục trang của dân chúng và quân đội của vua Quang Trung trong lễ đăng quang của ông thì vô cùng khó khăn. Không tìm đâu ra hình ảnh trang phục của các dân tộc đã từng phục vụ vua Quang Trung hồi cuối thế kỷ XVIII (chỉ cách nay 2 thế kỷ thôi). May sao chúng tôi đọc được cuốn Voyage to Cochinchina in the Years 1792 anhd 1793 (Hành trình đến xứ Đàng Trong những năm 1792 và 1793) của John Barrow.

Trong sách có nhiều hình ảnh các tầng lớp dân chúng, dụng cụ trong đời sống, thuyền bè, sông núi năm 1792. Người phương Tây vẽ, nên người Việt ra Tây cả. Chúng tôi nhờ các họa sĩ có tay nghề ở Đại học Mỹ thuật Huế vẽ lại các hình vẽ đó bằng nét vẽ VN. Các bạn dù tay nghề cao nhưng phải vẽ đi vẽ lại nhiều lần mới được duyệt để  dùng. Đến khi đi may mẫu, thợ may là con cháu của thợ may Cung đình Nguyễn ngày xưa nhưng cũng phải may đi may lại nhiều lần mới đạt yêu cầu.

Nhờ có phục trang cổ như thế mà cuộc lễ Đăng quang của vua Quang Trung ở núi Bân tháng 12-2008 đã được báo chí và giới nghiên cứu hoan nghênh.

Với một chút kinh nghiệm đó, trong bài “Làm phim Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp ” (Hồn Việt, số 11, 5-2008, tr. 12-13) tôi nghi ngờ khả năng phục chế được “Dân phục, quan phục, vua phục, cảnh trí cách đây 1000 ngàn năm” của VN, và đề nghị hoãn lại việc làm phim Lý Thái Tổ đã đặt hàng cho Hãng phim truyện VN sản xuất. Bài báo của tôi là một trong những ý kiến tham khảo của ông Phạm Quang Long – GĐ Sở VHTT Hà Nội trong việc rút lui quyết định làm phim Lý Thái Tổ với kinh phí 200 tỷ đồng.

Với một chút kinh nghiệm nghiên cứu thiết kế cổ trang năm ấy, tôi xin có ý kiến về việc thiết kế cổ trang phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long như sau:

Người được mời thiết kể trang phục cổ cho phim là Tiến sĩ Đoàn Thị Tình. Qua báo chí tôi được biết TS Tình đã có một bản thiết kế rất chi tiết giao cho đoàn làm phim đem sang Trung Quốc thuê may. Nhưng vì “tuổi tác” không qua tận nơi để theo dõi việc sản xuất cổ trang được, bà phải nhờ họa sĩ Phan Cẩm Thượng giúp. Đoàn làm phim đã sử dụng trang phục cổ do bà thiết kế và sản xuất bên Trung Quốc.

Nay bộ phim đã xong và đã trích đoạn làm trailer quảng bá rộng rãi trên mạng toàn cầu và báo chí VN. Dư luận la hoảng lên là phim cổ trang “lai Tàu” quá. Bà đã trả lời báo chí trong nước và các đài phát thanh nước ngoài rằng trang phục cổ trong phim đúng như ý của bà, “người Trung Quốc phục chế trang phục ấy không can thiệp gì vào thiết kế” của bà cả.

Trả lời phỏng vấn, bà nói: “Bộ phim về vua Lý Công Uẩn, phía Trung Quốc hoàn toàn không can thiệp vào quá trình thiết kế các bộ trang phục sử dụng trong phim. Gọi những chỉ trích rằng “phim trông quá Trung Quốc “là không có căn cứ“.

Như vậy bà là người chịu trách nhiệm về trang phục của bộ phim. Tôi trân trọng ý kiến của bà. Để rõ hơn tôi xin bà trả lời hộ cho tôi hai sự việc sau:

1) Căn cứ vào tài liệu nào để thiết kế cái mão Bình Thiên của vua Lý có chùm tua trước trán như ảnh trong phim trích dẫn dưới đây? Và bà căn cứ vào tài liệu nào bà cho vai vua Lý Công Uẩn mặc giáp trụ như một võ tướng trong các phim cổ  trang của Trung Quốc đã chiếu “búa xua” trên truyền hình lâu nay như sau:

Diễn viên Tiến Lộc trong tạo hình Lý Công Uẩn mặc long bào đội mũ bình thiên (ảnh trái) và mặc áo giáp đội mũ trụ (ảnh phải) trong phim.

Phải chăng bà đã “Trung hoa hóa” ông vua sáng lập ra triều Lý VN?

2) Bà có ý kiến gì về những câu trả lời phỏng vấn của họa sĩ Phan Cẩm Thượng – người bà nhờ giúp theo dõi việc sản xuất trang phục cổ do bà thiết kế, đã đăng trên báo Hồn Việt (Bài Họa sĩ Phan Cẩm Thượng: “Sang Trung Quốc làm phim lịch sử, rất dễ bị Trung Hoa hóa“, (Hồn Việt số 36, tháng 6-2010, tr. 36-38) sau đây:

Nhà báo Hoàng Đăng hỏi–  Có người ở đoàn phim kể rằng, các chuyên gia may phục trang của Trung Quốc có quyền năng rất lớn, vì thế, ngoài những trang phục có sẵn hay trang phục họ may theo cách của họ, ta muốn thay đổi họ cũng không đồng ý. Vậy nên đa phần trang phục và đạo cụ sử dụng từ kho trang phục của họ…

Họa sĩ Phan Cẩm Thượng trả lờiCó 2 loại trang phục: Quan phục và dân phục. Y phục cổ truyền của ta mới chỉ được xem qua hình ảnh vua chúa thế kỷ 17 trở lại chứ trước đây hầu như chúng ta không được biết nhiều. Có tài liệu chép trang phục của vua chúa VN từ thời này sử dụng y phục Trung Quốc và các họa sĩ thiết kế dựa theo tài liệu đó để thiết kế.

Nhưng thợ may Trung Quốc xem thiết kế là biết ngay y phục theo “gốc” Trung Quốc nên họ chữa lại theo nguyên bản trang phục Trung Quốc mà không chấp nhận sáng tác của mình. Ví dụ, trang phục vua Đinh và vua Lê, họa sĩ Đoàn Thị Tình không vẽ hình rồng nhưng thợ may bảo thiết kế Vương phục không thể không có rồng, nếu ta không đồng ý như vậy thì họ không may.

” Khó có thể nhận ra chất Việt qua bối cảnh cung điện và trang phục vua Lý Thái Tổ trong phim”(Chú thích trên báo Hồn Việt số 36, tr.36)

Các nhà làm phim nói, họ (TQ) có quyền rất lớn nên đạo diễn và các nhà làm phim phải theo họ (trường hợp sáng tạo các mẫu mới không theo truyền thống nữa là chuyện khác). Kết quả, ta thiết kế một đằng nhưng thợ Trung Quốc vẫn may theo ý họ… (cột 3 tr. 36 và cột 1 tr. 36)

Bộ phim do hãng tư nhân đầu tư nên nếu trang phục nào cần thì may, còn không thì thuê vì nếu tất cả trang phục đều may mới thì kinh phí rất lớn. Một bộ áo giáp giá 5.000 tệ (khoảng 15 triệu đồng), mà mỗi tướng lĩnh ra trận cần từ 3 đến 4 bộ giáp nên tiền đầu tư sẽ lớn. Phương án chính là thuê trang phục và khi thuê thì tất nhiên y phục giống TQ.(cột 3, tr.37) (!)

Nội dung trả lời phỏng vấn của Họa sĩ Phan Cẩm Thượng đã đăng trên báo Hồn Việt cách đây 3 tháng hoàn toàn mâu thuẫn với ý kiến bảo vệ bộ phim của bà. Vậy người xem truyền hình VN tin ai? Tin bà là người ngồi ở Hà Nội thiết kế trên giấy hay tin Phan Cẩm Thượng – người theo dõi việc sản xuất 700 bộ trang phục cổ và đưa vào phục vụ đóng xong bộ phim?

Người hóa trang: Viết chuyện trang điểm, hóa trang có liên quan đến Trung Quốc, tự nhiên tôi nhớ đến chuyện “Chiêu quân” thời Hán. Chỉ vì gia đình không biết hối lộ nên Chiêu Quận bị Mao Diên Thọ điểm cho một cái nốt ruồi “sát phu”, không những Chiêu Quân không được vua Hán nhận mà còn bị nhốt vào lãnh cung suýt chết.

Đoàn làm phim của chúng ta không có người Việt đi theo hóa trang và  trang điểm cho diễn viên. Người làm hóa trang – trang điểm đều là người Trung Quốc thì làm sao cái mặt của các diễn viên VN có “hồn Việt” được? Đề nghị đoàn làm phim chỉ cho con cháu nước Việt thấy cái “hồn Việt” ở đâu trong hình ảnh vai Lý Công Uẩn sau đây:

Hồn Việt ở đâu trong vai diễn Lý Công Uẩn này?

Tôi có cảm giác ông Sơn Trường Thành bỏ tiền sản xuất bộ phim để thỏa mãn thị hiếu của người Trung Quốc chứ không phải dành cho người Việt. Một nghìn năm sau con cháu VN tưởng nhớ đến vua Lý Thái Tổ bằng hình ảnh dưới đây sao?

Hoàng hậu và Hoàng đế TQ?

Trẻ con từng xem phim Tàu trên tivi cũng có thể bảo rằng đây là vợ chồng một ông vua Tàu chứ làm sao có thể bảo đó là vua và Hoàng hậu đầu Triều  Lý.

Còn hình ảnh vị Quốc sư Vạn Hạnh thì đạo diễn bê ngay hình ảnh của “Sư phụ” Tam Tạng đi thỉnh kinh trong phim TQ hiện đang chiếu trên tivi VN như thế này:

Tam Tạng” (Sư Tàu) và vua Tàu áp đặt cho Sư Vạn Hạnh và vua Lý Công Uẩn

Tôi cũng xin hỏi họa sĩ Phan Cẩm Thượng, người Trung Quốc thiết kế các vai vua quan triều Lý có cái búi tóc dựng ngược trên đỉnh đầu (xem 3 ảnh trên), họ có hỏi ý kiến của cố vấn văn hóa mỹ thuật của đoàn làm phim không?

Trong lịch sử 1000 năm Thăng Long có sự kiện thiên tài quân sự Quang Trung đã đánh thắng 29 vạn quân Thanh hồi đầu Xuân Kỷ Dậu (1789). Trước khi xung trận, trong lời dụ tướng sĩ, vua Quang Trung đã nói lên quyết tâm đánh bại  quân Thanh xâm lược để giải phóng Thăng Long, bảo vệ nền độc lập dân tộc, văn hóa dân tộc: “Đánh cho để tóc dài/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chính luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử trí Nam quốc anh hùng chi hữu chủ[1]

Cách đây trên 220 năm vua Quang Trung làm nên chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) khiến cho quan quân nhà Thanh khiếp sợ cũng chỉ để bảo vệ “tóc dài, răng đen”, bảo vệ độc lập dân tộc. Bây giờ ta đang có độc lập, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, trong đó có chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) nỡ nào đoàn làm phim “Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long” để cho các nhân vật lịch sử VN đội tóc của người Trung Hoa?

Sự có mặt của họa sĩ Phan Cẩm Thượng và cả đạo diễn trẻ Tạ Huy Cường ở trường quay Hoành Điếm chẳng qua chỉ để “làm cảnh”. Nhưng nếu bộ phim được lên sóng ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì họ vẫn phải chịu một phần trách nhiệm với lịch sử văn hóa dân tộc.

Còn nữa


[1] UBKHXHVN, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb KHXH, HN 1971, tTr.353

Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long: Tìm đâu hồn Việt?